Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Truyện ngắn: Ba thằng bạn cùng làng - 1 (Duy Đảo)

    Chúng tôi sàn sàn tuổi nhau sinh ra và lớn lên ở vùng quê bao bọc bởi bốn bề sông nước. Quê tôi là vùng đất bãi nên quanh năm làng xóm ẩm ướt lụt lội. Làng tôi có tên thôn, tên xóm hẳn hoi nhưng thiên hạ có việc tới thăm khi tìm đường chỉ hỏi tên tục của làng, làng “Lằn”. Chả biết vì sao làng tôi lại có tên như thế. Theo các cụ cao niên, cái tên “Lằn” đã có từ lâu lắm, từ cái thời mà cụ tổ đầu tiên của chúng tôi tới mảnh đất này khẩn đất.


      Chiến tranh đã qua tự lâu,  thằng chết đã yên phận, thằng sống cũng ngót nghét trên dưới 60. Chơi với nhau từ thuở cởi truồng chăn trâu cắt cỏ, mài đít ở trường làng, may mắn “Ơn Đảng, Ơn chính phủ” hầu như chúng tôi đứa nào cũng học được tới lớp 5. Đa phần học tiếp đến lớp 7, chỉ có tôi và Vinh là leo được đến cấp 3. Đại học ư! Hai từ "đại học" ngày ấy đối với chúng tôi, những đứa trẻ ở một vùng quê hẻo lánh, nghèo khó sao nó xa xôi thế, giống như ngôi chùa Cao trên đỉnh Yên Tử mà chiều chiều đi dặm cáy, dặm tôm, đứng trên con đê bên dòng sông Văn Úc, ngước nhìn qua lớp lớp mây xám.
    Tất cả lứa chúng tôi trừ những thằng quặt quẹo và không đủ tiêu chuẩn lý lịch, năm 70-72 sau trước đều nhập ngũ trở thành người lính. Cuộc đời mỗi đứa sướng khổ hình như trời đất đã sắp đặt cả, chả đứa nào thoát được số phận.
     Thắng chơi với bọn tôi nhưng nhiều tuổi hơn. Khi học lớp 4, chúng tôi có trò chơi “chong chóng”, trò này do tôi bày ra. Bằng cách lấy cắp cái muôi múc canh bằng nhôm của bà già trong chạn bát, đập bẹt, cắt thành hình cánh quạt như cánh quạt máy bay. Sau đó dùng đinh đục hai lỗ nhỏ ở giữa. Lấy cuộn chỉ bằng gỗ đã hết, đóng hai cái đinh guốc vào đầu cuộn chỉ sao cho khớp với hai cái lỗ trên cánh quạt, rồi cắm cánh quạt vào. Lấy đũa ăn cơm chọc vào lõi cuốn chỉ giữ chặt. Tay kia dùng một sợi dây cuộn quanh ống chỉ giơ lên ngang đầu  kéo thật mạnh sợi dây. Thế là cánh quạt quay tròn, vút lên không trung.
Trong một lần sơ suất, cánh quạt xoẹt vào mắt Thắng. Thế là hai “cửa sổ tâm hồn” thằng bạn mất toi một. Ngày ấy lấy đâu ra thuốc thang mà chữa, bệnh viện tỉnh thì xa… Thế là Thắng từ đấy có biệt danh “chột”. Chỉ là chuyện không may thời trẻ con thò lò mũi, chân đất, toét mắt nhưng tôi cứ day dứt mãi.
  Thắng không phải đi bộ đội vì chột mắt mà giả tỉ như hai mắt có sáng đi chăng nữa thì cũng chẳng bao giờ Thắng được đi bộ đội vì bố Thắng  “xỏ nhầm giầy Tây”. Nghe các cụ trong làng, ngày xưa có thời gian bố Thắng đi lính Dõng. Những năm ấy lý lịch như thế thoát ly làm anh công nhân cầu đường, hay chân ba toa trong trại lợn huyện còn khó, huống hồ đi bộ đội. Thế là Thắng phải ở lại quê.
    Thắng có nhiều tài nhưng sau này làm được nhà, sắm tủ Buyp-phê, giường Mo-dec cũng là nhờ ở tay thợ mộc giỏi. Thắng lấy vợ sớm. Vợ Thắng đẹp. Cô ta là người thiên hạ, chả biết ở đâu lang bạt tới làng tôi rồi được sư chùa thu gom về làm công quả ở chùa làng. Sau khi cưới, Thắng đưa vợ về nhà, không ở chùa nữa. Vợ Thắng “sòn sòn, sòn đô sòn”, ba năm hai đứa, đẻ một mạch  năm sáu mặt con. Nhà kinh tế vững, thóc khoai trong buồng lúc nào cũng có.
    Thắng chết lâu rồi, cách nay cũng trên dưới chục năm, chết vì bệnh gan, vì rượu. Thắng là thằng về với ông bà ông vải sớm nhất trong mấy đứa bọn tôi.
     Những thằng còn sống lâu lâu gặp được nhau, trên chiếu rượu đứa thì nói Thắng sướng "cả đời chỉ nằm nhà sờ vú vợ, chẳng phải nếm mùi chiến tranh". Đứa lại kêu Thắng khổ "chết mà chả biết chiến tranh là gì". Sướng hay khổ ở đời cũng là tuỳ theo suy xét của mỗi người, nhưng tóm lại Thắng đã yên phận mình.
...
(Còn tiếp).

1 nhận xét:

Nặc danh nói...

Giọng văn rất làng quê. Rí rỏm phết!!!