Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

TẢN MẠN ĐI CHÙA NGÀY XUÂN (Đào Duy)

Khi còn nhỏ, tết về quê, theo bà lên chùa. Trong trí óc non nớt của tôi ngôi chùa làng thật uy nghiêm, lúc nào cũng thơm ngát khói hương, thứ hương trầm mà sau này cứ mỗi lần bất chợt thoang thoảng đâu đó tôi lại nhớ về ngôi chùa làng. 
Chùa rêu phong bám loang lổ trên những viên gạch cổ. Những tảng đá xanh hình chữ nhật diện tích gần nửa mét vuông lát trước tam quan. Chùa nằm ép mình dưới tán cây bồ đề già. Phía trước chùa có một cái ao lớn, làng gọi ao Chùa, nước quanh năm đầy ắp, trong veo. Bao thế hệ trai gái làng lớn lên, đi xa cũng từ giọt nước ao chùa này. 


Phía trước sảnh là những bụi hoa Tầm xuân, những bụi Móng rồng, hoa Mẫu đơn đỏ rực và hàng Ngâu bông vàng nhạt nhỏ li ti thoang thoảng hương thơm. Sâu vào phía trong tam bảo là những hàng cột gỗ lim đen bóng, phải hai đứa trẻ như tôi mới ôm xuể. Tôi không thấy chùa làng tôi có sư, chỉ có một cụ già, tên cụ là Khúc nên làng gọi “Chùa cụ Khúc” và một bà già câm bị chứng chân “voi” ngày ngày quét dọn tụng kinh gõ mõ lo nhang khói. Trên bệ thờ là những bức tượng sơn son thếp vàng,  đã ngả màu xám và nứt nẻ do nhang khói và quá khứ thời gian.
Khi lớn lên lang bạt nhiều nơi, tôi đã từng viếng thăm nhiều chùa ở miền Bắc:  Chùa Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Côn Sơn, chùa Yên Phụ trên dãy Yên tử, chùa Hàng, chùa Bồ Đề...
Chùa phương Bắc cổ kính và thâm nghiêm, nơi chứa đựng và chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, nó tồn tại cùng với vùng đất cổ hàng ngàn năm có nhiều giá trị về văn hoá, lịch sử, kiến trúc...  
Sau giải phóng, định cư phương Nam và cũng từ đó tôi ít khi đi chùa. Chùa phương Nam kiến trúc tân thời quá. Chùa thiết kế hiện đại với bê tông và sàn đá bông bóng loáng. Trong chùa, ánh đèn điện xanh đỏ nhấp nháy, quạt máy quay vù vù, sư ngồi tụng kinh qua micrô và amply hifi tiếng mõ một nơi tiếng thầy một nẻo, liếc thấy khách vãng lai không bỏ tiền “công đức” thì tiếng mõ cũng tự dưng nhỏ dần chẳng còn hồn. Áo của sư được may bằng thứ lụa đẹp, là ủi phẳng lỳ. Sư cưỡi xe máy lao vù vù, da thịt đỏ au như rượu quá chén. Còn nhang khói thì rặt nhang Thái Lan, hay nhang vỏ bưởi trộn hương liệu hoá học. Cứ bước chân vào tới cổng chùa là tôi mắc ói không thể chịu được mùi nhang thương mại này.
Tết đến, xuân về tôi chỉ mơ một lần được trở về ngôi chùa làng, những ngôi chùa phương Bắc. Chùa làng tôi cũng thay đổi nhiều. Vẫn trên nền đất cũ nhưng chùa đã được trung tu mới hơn, nhưng những hàng cột lim đã không còn, thay vào đó là hàng cột xi măng quét sơn giả gỗ. Những cột lim đen bóng giờ chả biết ở đâu? Ao chùa còn đó nhưng còn đâu hình ảnh  thôn nữ  đêm đêm rủ nhau gánh nước. Ao chùa ngày trước to thế mà giờ chỉ còn là vũng nước nhỏ Sen, Súng mọc đầy và óc ách tiếng quẫy đạp của lũ cá đói ăn.
Bà nội tôi mất từ lâu, ngày mai, ngày giỗ lần thứ 37 của Bà. Nhớ Bà tôi lại mong bao giờ cho tới ngày xưa để lại được theo Bà lên chùa. Nhưng mơ ước về một ngày đã xa gìơ chỉ còn trong  quá vãng. Cúi đầu, thắp nén nhang tưởng nhớ Bà và những gì xưa cũ không còn.

                                                                      

1 nhận xét:

Unknown nói...

Bài viết hay quá!